Minh Lý Đạo - Tam Tông Miếu

» mục lục | THỜI KỲ THỨ NHỨT | THỜI KỲ THỨ HAI | THỜI KỲ THỨ BA

Lịch sử thành lập

THỜI KỲ THỨ HAI

Thời kỳ thứ hai (1965-1972): Khai Cơ Giáo Pháp

Thời kỳ nầy có dấu mốc lịch sử của toàn Đạo. Một ngày trọng đại mà mỗi môn sanh Minh Lý đạo khắc cốt ghi tâm: Ngày mồng 8 tháng Chín năm Ất Tị (2.10.1965), Đức CHÍ TÔN, TAM GIÁO TỔ SƯ, CHƯ PHẬT TIÊN THÁNH THẦN lâm đàn chứng lễ khai kinh Cầu Nguyện và ban quyền, ban pháp.

KHỔNG môn đệ tử dựng xây đời,
THÁNH đức còn chờ đến một mơi.
TIÊN Phật lâm phàm khai Chánh Pháp,
SƯ đồ gắng bước trở về ngôi.

Đức KHỔNG THÁNH TIÊN SƯ dạy rằng: “Cơ Đạo đang chờ các hiền đồ trau tâm sửa hạnh, để thừa hành thiên đạo“.

THÁI bình chờ đợi các môn sanh,
THƯỢNG đạt làm cho sáng Đạo lành.
LÃO luyện tinh thần nên quả giác,
QUÂN minh trị thế Đạo lưu hành.

Tiếp đến Đức THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN loan báo “Đức CHÍ TÔN giá lâm ban quyền, ban pháp cho chư đệ tử hầu đủ sức dẫn bước đưa đường cho nhân loại trong lúc giao thời, để mở màn một kỷ nguyên an lành cho hậu thế“.

NHƯ như mới được phép vô sanh,
LAI đáo trần gian tiếp kẻ lành.
PHẬT pháp trùng hưng đưa khách tục,
TỔ thừa sứ mạng tỉnh đời manh (mê).

Đức NHƯ LAI PHẬT TỔ lâm đàn dạy rằng: “Một hồng ân lớn lao cho nhơn loại. Trong lúc đời loạn Đạo suy, mà được Chánh Pháp tái lập để cứu rỗi toàn linh. Đức Như Lai Phật Tổ hân hoan trông thấy cuộc thế ngày mai đang chớm nở: những mầm sống nơi lòng các đệ tử hiện đang rải rác ở khắp nơi. Kẻ đã mang chịu mạng Trời lo đường giải thoát, kẻ còn tiềm ẩn chờ tiếng gọi ở lòng. Thời pháp đã vang dội xa gần, hoặc ở đây, hoặc ở nhiều nơi, trong nhà ngoài nước“.

Và Đức CHÍ TÔN lâm đàn dạy Đạo cho Minh Lý môn sanh:

NGỌC quí Thầy trao xúm giữ gìn,
HOÀNG ân quyền pháp để lòng tin.
THƯỢNG hòa hạ mục ơn còn lắm,
ĐẾ đạo hoằng khai trẻ gắng bền.

Kể từ đây, Đức CHÍ TÔN và TAM GIÁO ĐẠO CHỦ chính thức hoằng khai TÂN PHÁP MINH LÝ ĐẠO.

Đến đàn cơ ngày 6 tháng 10 năm 1965, nhằm ngày 12 tháng 9 năm Ất Tỵ, Đức ĐÔNG PHƯƠNG LÃO TỔ dạy: “Từ đây trở đi, Minh Lý không còn ở trong phạm vi đoàn thể, hiệp hội, mà đã thành một GIÁO HỘI TRUNG TÔNG ĐẠI ĐẠO“.

Cũng trong năm 1965, Ơn Trên có chuyển đồng tử đến giúp cho đạo Minh Lý. Trước tiên, Ơn Trên dạy Dịch Lý Châu Dịch Huyền Nghĩa, giải về quẻ Phục, quẻ Tùy, quẻ Thái, quẻ Kiền, quẻ Khôn, quẻ Thiên Lôi Vô vọng. Kế tiếp dạy nhiều quẻ khác nhằm làm rõ thêm nghĩa đạo lý Tiên Thiên.

Trong thời kỳ nầy, Ơn Trên ban cho hai bộ kinh rất quan trọng là Minh Lý Chơn GiảiĐạo Học Chỉ Nam làm kim chỉ nam cho phương tu của Minh Lý Đạo. Riêng Đạo Học Chỉ Nam không chỉ vạch ra một lối tiến đồng nhứt về Đạo học cho môn sanh Minh Lý, mà còn là “Bửu kinh để cho đời làm phương châm tu thân xử thế!” Đức ĐÔNG PHƯƠNG LÃO TỔ dạy ngày 4 tháng 2 Tân Hợi (28-2-1971).

Năm 1966-1971, Ngài Minh Thiện đã xây dựng Bác Nhã Tịnh Đường làm nơi tu học cho toàn đạo và Đại Đạo tương lai, “là chỗ công cộng cho các đạt nhân chí đức, làm nơi lập địa tu hành” theo Thánh ngôn của Đức Thánh Trần Hưng Đạo ngày 1 tháng 4 năm 1971.

1969 Thành lập đoàn Thanh Thiếu Nhi Minh Lý.

1972 Thành lập Nữ đồ để điều hành ban Nữ phái, trông coi đoàn Thanh Thiếu Nhi Minh Lý là mầm đạo tương lai. Từ đây Nữ phái có quyền pháp tham gia đạo sự cùng Nam phái.

Ấn tống các kinh sách đã dịch: Đạo Đức kinh, Thanh Tịnh kinh, Huỳnh Đình kinh… và kết tập: Minh Lý Chơn Giải, Chu Dịch Huyền Giải, Đạo Học Chỉ Nam, Bác Nhã Khai Môn.

1969 Thành lập phòng khám bệnh từ thiện do ông Khai Tâm quản lý.

1966 Quản lý hai trường học do Hội Bình Dân Học Hiệu trao lại.

‹ Phần trướcMục lụcPhần sau ›