Minh Lý Đạo - Tam Tông Miếu

» mục lục | chương I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII

Chương II

CHƯƠNG II

TÔN CHỈ, MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG, NGHI LỄ

Điều 4: Tôn chỉ

Minh Lý Đạo có tôn chỉ dựa theo giáo lý của Tam giáo, Phật – Lão – Nho mà thi thiết giới quy, giới luật; dung hòa mọi tín ngưỡng, xu hướng cộng đồng, cùng học thuyết Đông Tây kim cổ, mở rộng tình thương, không phân chia màu sắc địa phương, nhằm hoằng dương chánh pháp, phục vụ nhơn sanh trên cương lãnh từ bi, giác ngộ và giải thoát.

Điều 5: Mục đích

Mục đích của Minh Lý Đạo là hiệp nhứt tinh hoa của ba tôn giáo lớn ở phương Đông là Phật – Lão – Nho để tìm lại cội nguồn là Đạo, để từ đó mà tu hành, tự độ, độ tha, góp phần cứu khổ nhơn sanh, xây dựng hòa bình, an lạc cho Tổ quốc và nhân loại.

Điều 6: Nguyên tắc hoạt động

Nguyên tắc hoạt động của Minh Lý Đạo theo lập trường là thuần túy tu hành, đem Đạo độ Đời mà không xen lẫn ý tư riêng của việc đời vào việc Đạo. Minh Lý Đạo hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Luật pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 7: Hình thức thờ cúng tại Thánh sở TAM TÔNG MIẾU

Việc thờ phượng của Minh Lý Đạo được sắp xếp tại Thánh sở TAM TÔNG MIẾU như sau:

Trên Chánh Điện: (từ trong nhìn ra)

Ngay giữa Bửu Điện là Thiên Bàn có 5 cấp:

1. Cấp thứ nhất: 1 bài vị thờ DIÊU TRÌ KIM MẪU

2. Cấp thứ hai: 2 bài vị

Bên phải là bài vị thờ NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ

Bên trái là bài vị thờ HỒNG QUÂN LÃO TỔ

3. Cấp thứ ba: 3 bài vị thờ Tam Giáo Tổ Sư

Ở giữa là TÂY PHƯƠNG PHẬT TỔ.

Bên phải là THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN.

Bên trái là VĂN TUYÊN KHỔNG THÁNH.

4. Cấp thứ tư: 4 bài vị thờ Tứ Đại Bồ Tát

ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

VĂN THÙ BỒ TÁT

PHỔ HIỀN BỒ TÁT

QUAN ÂM BỒ TÁT

5. Cấp thứ năm: 5 bài vị thờ Ngũ đại tinh quân

NAM ĐẨU TINH QUÂN

ĐÔNG ĐẨU TINH QUÂN

TÂY ĐẨU TINH QUÂN

BẮC ĐẨU TINH QUÂN

TRUNG ĐẨU TINH QUÂN

Thêm hai bài vị chung sau nầy:

LÔI ÂM CHƯ PHẬT & BỒNG LAI CHƠN TIÊN

(tượng trưng cho giải thoát và triền phược)

Như vậy là cấp 5 có tất cả là 7 bài vị .

Tất cả các bài vị bày trên thiên bàn, nhìn tổng thể, tạo thành một hình tam giác, mà ngôi của Tây Phương Phật Tổ (tức Thích Ca Mâu Ni) ở chính giữa, ngay ngọn đèn Lưu ly treo tại Bửu điện (tiêu biểu cho Trung đạo).

Ngoài ra:

– Bên trái Bửu Điện có bàn thờ Đức ĐỊA MẪU TỪ TÔN, là nơi dành cho Nam giới hầu lễ.

– Bên phải Bửu Điện có bàn thờ LỊCH ĐẠI TỔ TIÊN, để thờ các vị tiền bối khai sáng mối Đạo, là nơi dành cho Nữ giới hầu lễ.

– Hai bên hông đối mặt nhau :

– Bên phải có bàn thờ THANH PHƯỚC CHÁNH THẦN.

– Bên trái có bàn thờ THẬP ĐIỆN DIÊM VƯƠNG.

– Đối mặt với Thiên Bàn có hai bàn thờ:

– Ở phía trong: thờ LONG THẦN HỘ PHÁP.

– Ở phía ngoài: thờ MÔN QUAN THỔ ĐỊA.

Điều 8: Hình thức thờ cúng tại các Thánh miếu, Thánh xá, tư gia:

Tại các Thánh miếu:

Trên tường, ngay giữa Bửu Điện có treo một tấm gương tròn tượng trưng cho ngôi VÔ CỰC tức là Thượng Đế.

Thiên Bàn có 3 bài vị thờ Tam Giáo Tổ Sư

Ở giữa là TÂY PHƯƠNG PHẬT TỔ.

Bên phải là THÁI THƯỢNG LÃO QUÂN.

Bên trái là VĂN TUYÊN KHỔNG THÁNH.

Đối mặt với Thiên Bàn có hai bàn thờ:

– Ở phía trong: thờ LONG THẦN HỘ PHÁP.

– Ở phía ngoài: thờ MÔN QUAN THỔ ĐỊA.

Tại các Thánh xá, tư gia

Tại các Thánh xá, tư gia các môn sanh (tùy theo điều kiện) có lập trang thờ bài vị TAM GIÁO ĐẠO CHỦ ở trên cao và bên dưới có thờ bài vị HỘ MẠNG THẦN QUAN.

Điều 9: Các ngày lễ, thiền tịnh

– Hàng ngày, có 4 thời cúng tại Tam Tông Miếu, Bác Nhã Tịnh Đường và các Thánh miếu:

– Sáng : 06 giờ 00 (Mẹo thời)

– Trưa : 11 giờ 00 (Ngọ thời)

– Chiều: 18 giờ 00 (Dậu thời)

– Tối: 23 giờ 00 (Tý thời)

– Hàng tháng, vào hai ngày Sóc – Vọng, các môn sanh và thiện nam tín nữ đồng chung hiệp tại Thánh sở hoặc Bác Nhã Tịnh đường, Thánh miếu, Báo Ân từ để dâng hương cầu an cho bá tánh.

– Trong các tiết Xuân phân, Hạ chí, Thu phân, Đông chí, tại Thánh sở, Bác Nhã Tịnh đường, Thánh miếu, Thánh xá, có mở những khóa học và thực hành thiền tịnh, khí công cho toàn thể tín đồ, môn sanh. Thời gian học tập được ấn định như sau:

– Tiết Xuân phân: 11 ngày (trong khoảng nửa cuối tháng 3 dương lịch)

– Tiết Hạ chí: 09 ngày (trong khoảng nửa cuối tháng 6 dương lịch)

– Tiết Thu phân: 13 ngày (trong khoảng nửa cuối tháng 9 dương lịch)

– Tiết Đông chí: 07 ngày (trong khoảng nửa cuối tháng 12 dương lịch).

Ngoài ra, còn có các khóa thiền tịnh cầu an mỗi tháng (7 ngày) tại các địa điểm nêu trên.

– Hàng năm, Hội thánh có các lễ cúng khác tại Thánh sở, Bác Nhã Tịnh đường, Thánh miếu, Thánh xá, Báo Ân từ như sau:

1/ Ngày 8,9/Giêng/Âm lịch: Vía Ngọc Hoàng Thượng Đế và cúng giải hạn nhương tinh.

2/ Ngày 14, 15/Giêng/Âm lịch: Thượng nguơn Lễ cúng Thiên quan tứ phước.

3/ Ngày 14/2/Âm lịch: Lễ Vía Đức Thái Thượng Lão Quân.

4/ Ngày 14/4/Âm lịch: Lễ Vía Đức Thích Ca Phật Tổ.

5/ Ngày 15/5/Âm lịch: Lễ tưởng niệm Đức Vạn hạnh Thiền Sư.

6/ Ngày 6/7/Âm lịch: Lễ Vía Đức Hồng Quân Lão Tổ.

7/ Ngày 14,15/7/Âm lịch: Trung Nguơn Lễ Địa Quan xá tội.

8/ Ngày 17/7/Âm lịch: Lễ Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu.

9/ Ngày 8/8/Âm lịch: Lễ tưởng niệm Đức Hà Tiên Cô.

10/ Ngày 20/8/Âm lịch: Lễ tưởng niệm Đức Hưng Đạo Đại Vương.

11/ Ngày 26/8/Âm lịch: Lễ Vía Đức Văn Tuyên Khổng Thánh.

12/ Ngày 14,15/10/Âm lịch: Hạ nguơn Lễ Thủy Quan giải ách.

13/ Ngày 15/11/Âm lịch: Giỗ Hội – Các vị tiền hiền và Minh Lý môn sanh quá vãng.

14/ Ngày 16/11/Âm lịch: Lễ Vía Đức A Di Đà Phật và Lễ tưởng niệm Đức Bác Nhã Thiền Sư.

15/ Ngày 26/11/Âm lịch: Lễ kỷ niệm Minh Lý Đạo Khai (ngày chánh 27/11/Âm lịch).

16/ Ngày 23/12/Âm lịch: Lễ Tư Mạng Táo Quân triều thiên và đưa thần.

17/ Ngày 29, 30/12/Âm lịch: Lễ rước ông bà (ở Hậu đường), lễ rước Tư Mạng Táo Quân và chư Thần hồi vị, Lễ cúng giao thừa, tế Trời và Cầu an.

Ngoài ra, có những lễ không thường xuyên như:

– Lễ nhập môn hay lễ nhập tự.

– Lễ cúng cầu siêu cho người mới từ trần.

– Lễ cúng cầu siêu tuần thất, bá nhựt, tiểu tường, đại tường.

– Lễ hôn phối.

– Lễ cầu lành bệnh.

Điều 10: Lễ phẩm

– Trên Chánh Điện: Lễ phẩm là hương, đăng, hoa, quả, trà, rượu;

– Dưới Hậu đường: Lễ phẩm ngoài hương, đăng, hoa, quả, trà, rượu còn cúng cơm chay; nghiêm cấm dùng các thực phẩm có nguồn gốc động vật.

Điều 11: Giáo lý, kinh sách, giới luật

Về giáo lý, Minh Lý Đạo rút tinh hoa Tam giáo Phật-Lão-Nho làm căn bản. Ngoài ra, Minh Lý Đạo cũng nghiên cứu các học thuyết Đông Tây, xưa và nay làm một chương đạo học tự tu, tự độ để độ dẫn nhơn sanh.

Nền tảng giáo lý Minh Lý Đạo dựa trên:

Kinh: 5 Bộ Kinh tụng (Bố Cáo, Sấm Hối, Tịnh Nghiệp Vãn, Nhựt Tụng, Giác Thế).

Luật: Giới luật và hình phạt, Tứ Đại điều qui, Nhị thập tứ điều.

Luận: Minh Lý Yếu Giải, Minh Lý Học Thuyết, Minh Lý Chơn Giải,.. do Ngài cố Định pháp Tổng lý Nguyễn Minh Thiện biên soạn và kết tập đại thành, cùng với Đạo Đức Kinh, Viên Giác Kinh, Trung Dung, … do Ngài Việt dịch.

Điều 12: Giới đàn cầu sự

Giới đàn cầu sự là hình thức nghi lễ trong đạo được cử hành để cho thiện nam, tín nữ có đủ điều kiện hành trì các giới luật chế lập dành cho tín đồ, môn sanh và chức sắc đã được ấn định trong giới luật như sau:

Tín đồ: Ăn chay 6 ngày/tháng.

Môn sanh: Ăn chay từ 6, 10 ngày đến Tam ngươn trai.

Chức sắc (giáo sư trở lên): Ăn trường trai và giữ thanh tịnh giới.

Điều 13: Tang sự

Khi trong bổn đạo có tang sự hoặc cần đến cầu an, Viện Hành đạo, Quản lý Chi đạo hoặc người đứng đầu Cơ sở đạo có nhiệm vụ triệu tập đồng đạo đến để thiết lễ lo tang sự, cúng thất, bá nhựt, cúng tiểu tường (giáp năm), cúng đại tường (mãn tang) và cầu siêu hoặc cầu an cho bổn đạo. Trong lễ cúng phải dùng toàn thực phẩm chay.

Nếu có vị môn sanh, tín đồ qua đời mà gia đình không có điều kiện tống táng hoặc chi phí cúng kính thì Viện Hành đạo, Quản lý Chi đạo hoặc người đứng đầu Cơ sở đạo tại địa phương có trách nhiệm đề xuất quỹ Hội Thánh hỗ trợ chăm lo chu toàn tang sự.

Điều 14: Lễ cầu an, sám hối

Cầu an, cầu siêu hoặc lễ Minh Lý Đạo khai, vía các chư tổ sư tại Thánh sở, Bác Nhã Tịnh đường, Thánh miếu, Thánh xá, Báo Ân từ thì tập thể môn sanh, tín đồ xa gần phải tề tựu về một trong các nơi nêu trên dự lễ, làm việc công đức.

Bổn đạo ở trong nội thành (khoảng cách dưới 10 km), mỗi năm phải đến cúng cầu an và sám hối không được dưới 10 lần. Người bổn đạo ở ngoại thành mỗi năm phải đến chùa cúng cầu an và sám hối không được dưới 04 lần. Hàng chức sắc, dầu ở trong hay ngoại thành, đều phải đi cúng cầu an và sám hối ít nhất cũng bằng người bổn đạo ở trong nội thành. Trường hợp ngoại lệ (tùy hoàn cảnh cụ thể của môn sanh) sẽ do Viện Hành Đạo quy định.

Điều 15: Đạo phục

Đạo phục Minh Lý Đạo là màu đen và trắng.

– Nam: Áo dài đen, áo trong màu trắng, quần trắng, khăn đóng đen.

– Nữ: Áo dài đen, áo trong màu trắng, quần đen (trong các khóa tịnh thiền mặc quần trắng).

Áo dài đen có hai kiểu:

a/ Tay chẹt để dùng trong các lễ cúng và học ở hậu đường, tiếp khách, liên giao.

b/ Tay rộng để dùng cúng lễ tại chánh điện. Các môn sanh được ân phong, phải mang hài.

Các vị môn sanh xuất gia nhập tự: xuống tóc, bên trong mặc bộ đồ màu trắng, bên ngoài mặc áo tràng màu đen.

‹ Chương trướcMục lụcChương sau ›