» mục lục | CHƯƠNG THỨ NHÌ (chương 1 - Phần 2) | CHƯƠNG THỨ BA (chương 2 - Phần 2) | CHƯƠNG THỨ TƯ (chương 3 - Phần 2)
CHƯƠNG THỨ NHÌ (chương 1 – Phần 2)
CHỈ RÕ LÝ CẢM ỨNG TRONG HAI ĐƯỜNG THIỆN ÁC
I. NHỮNG ĐIỀU LÀNH NÊN CHỨA
Đức Thái Thượng có ghi trong Kinh Cảm ứng những điều lành nên chứa kể sơ ra sau này:
- Thị đạo tắc tấn, phi đạo tắc thối (đường phải thì tới, đường chẳng phải thì lui) – Thuận lẽ Trời, hạp lòng người là đường phải, khá sốt sắng bước lên; nghịch lẽ Trời, trái lòng người là đường chẳng phải, nên sợ mà xa lánh.
- Tích đức lũy công, từ tâm ư vật (chứa đức bồi công, lòng thương súc vật) – Điều lành còn ở trong lòng thì gọi là đức, khi đem ra thi hành rồi thì gọi là công. Thường tu đức, thường lập công, không lòng giải đãi thì đạo tâm mới vững vàng. Còn từ bi là cội rễ muôn lành. Người muốn chứa đức bồi công, chẳng những thương người mà thôi, cũng phải gồm thương đến súc vật nữa.
- Trung hiếu hữu đễ, chánh kỷ hóa nhơn (thảo ngay với vua, cha, hòa thuận cùng anh em, sửa mình ngay rồi sau mới chỉ dạy người được) – Làm tôi phải ngay, làm con phải thảo, làm anh phải hòa, làm em phải thuận. Suy ra từ khi con người biết lo cang thường luân lý, thì xưa nay náo Trời Đất, động quỉ thần, cảm hóa đến thú cầm thảo mộc, vẫn có một cái chí tánh (tánh tột ngay tột thảo) này được ứng đối như dùi với trống mà thôi. Cho nên lấy đó làm giềng mối các việc lành, làm căn bổn để tu thân. Nếu mình chưa noi lẽ phải, chế lòng tà, mà muốn cho người khác chừa dữ làm lành, dầu có quở phạt ép bức thế nào, thì cũng chẳng ai vâng chịu.
- Tế nhơn chi cấp, cứu nhơn chi nguy (trợ người trong việc gấp gảy, cứu người đương lúc hiểm nguy) – Những việc gấp gảy là như thuốc men khi có người đau ốm, chôn cất khi có người mãn phần, áo cơm khi có người đói lạnh. Những lúc hiểm nguy là lúc chết sống nội trong giây phút, tánh mạng như chỉ mành treo chuông, tỉ như té sông, chìm ghe, cháy nhà v.v… Chẳng cần người quen biết cùng không quen biết, kẻ thân hay là người thù, hễ thấy gấp thì trợ, thấy nguy thì cứu, chớ đừng viện lẽ không can phạm đến mình mà điềm nhiên tọa thị.
- Thọ nhục bất oán, thọ sủng nhược kinh (bị người nhục mà không oán giận, đặng người yêu mà lòng như sợ) – Người bị kẻ khác nhục mạ mà chịu không nổi, thì thế nào cũng nói: Nó là đứa tiểu nhơn vô lễ. Nếu biết nó là tiểu nhơn thì mình phải lấy cách quân tử mà đối đãi với nó. Nếu tranh giành với nó thì trên thế lại thêm một đứa tiểu nhơn nữa. Phải ráng gìn lòng khoan dung đại độ để cảm hóa kẻ hung bạo hoành hành. Tồn tâm như thế mới là mong hưởng đại phước đức. Còn đặng người yêu mà ban cho lộc vị danh lợi cao trọng thì lại e sợ không đủ tài đức mà đương lấy trách nhiệm, chẳng vì đó mà sanh thói kiêu căng, thì phước lại càng gia tăng thập bội.
- Thi ân bất cầu báo, dữ nhơn bất truy hối (làm ơn không trông trả, cho người chẳng nghĩ tiếc) – Đấng quân tử thường hay tế trợ người. Ai hiểu rõ đạo lý rồi, tự nhiên cũng phải vậy, chớ chẳng phải vì danh vì lợi như kẻ thường nhơn mà mong báo đáp. Cho rồi mà nghĩ tiếc, chẳng những ngày sau không còn cho ai được, mà e còn muốn đoạt của thiên hạ nữa.
Những điều lành nên chứa rất nhiều, khó mà kể ra cho toàn tất. Cần ích hơn hết là phải biết ở đời này không có điều lành nào nhứt định, là tuyệt đối cả. Tỉ như lòng thương súc vật là một điều lành đã kể trên, mà đến khi gặp con thú dữ nó làm hại thiên hạ thì còn nói phải thương mà không giết nó hay không? Tỉ như thí thuốc cứu bệnh, mà nếu mình không rõ chứng bệnh, không biết tánh thuốc, cho người ta uống vào phải đau thêm thì còn nói cứ thí thuốc mãi không? Mỗi người phải tùy theo cảnh ngộ, địa vị, học thức của mình mà hành động, sao đặng chỗ lợi ích cho chúng sanh, thêm phần tiến hóa cho nhơn loại, mới là đạt tới mục đích của điều lành vậy.
II. LÀM LÀNH SẼ GẶP PHƯỚC
Sau khi chỉ rõ những điều lành nên chứa, đức Thái Thượng dạy rằng: Kẻ làm lành như thế sẽ đặng các việc tốt sau nầy:
- Nhơn giai kỉnh chi (người đều kính trọng hạng người ấy) – Điều lành ấy là lẽ công chánh của Trời phú cho mỗi người đồng có đủ. Người giữ được trọn lẽ công chánh đó thì trên từ bậc quan viên, chức sắc, dưới tới kẻ dân dã quê mùa, không ai chẳng kính mến như thần minh. Câu nói sau này cũng đồng một ý đó: “Nhứt nhựt khắc kỷ phục lễ, thiên hạ qui nhân diên“, nghĩa là: Một ngày kia thắng nổi dục vọng của mình mà đem bổn tánh về chánh lễ, thì người ta trong thiên hạ khen cho mình là nhân. Chữ nhân này nghĩa là nhơn cách hoàn toàn (chỉ bậc thánh hiền).
- Thiên đạo hựu chi (đạo Trời hộ giúp họ) – Đạo Trời không quen biết ai, thường gần người lành mà thôi. Hoặc là tinh trung thấu đến mặt nhựt như Châu Công, hoặc là thuần hiếu động thiên đình như Đổng Vĩnh, đến khi lâm nạn đều có Trời giúp.
- Phước lộc tùy chi (phước lộc theo bên họ). – Phước là sự may mắn lành tốt, lộc là chỉ tiền của tước quyền. Theo bên họ, nghĩa là: Họ không cầu, không vụ tưởng tới mà tự nhiên có. Số là thiên tước tu, thì nhơn tước có một bên, thiện khí theo mình, cũng như hình có bóng, tiếng có tiếng dội, tự nhiên như nhiên, mình không hay biết.
- Chúng tà viện chi (các tà ma xa lánh họ). – Yêu bất thắng đức, cũng như người ta thường nói: Tà bất cảm chánh. Người lành chánh khí đủ đầy, thì tà ma chẳng dám xâm phạm đến, phải dang ra xa, tỉ như mặt trời mọc lên cao thì bóng tối nào mà không tiêu diệt.
- Thần linh vệ chi (các thần minh phò trì họ). – Thần minh chỉ nể vì người trung hiếu, khâm phục người ngay thẳng, thương mến người hiền lương, tôn trọng người đạo đức, cho nên chẳng gặp người lành nào mà không cần lo bảo hộ. Xưa nay người chứa đức chẳng gặp thủy tai, hỏa tai, đao binh, dầu có gặp cũng việc dữ hóa hiền, tai qua nạn khỏi. Bọn tà đạo chẳng dùng đức, chỉ dùng phép mà sai khiến thần thánh. Sai khiến không chắc được, mà sợ phải mắc tội là khác. Phép chánh đạo chỉ lấy đức mà cảm thần thánh, dầu không kêu thần thánh chớ thần thánh cũng đến, dầu không cầu thần thánh chớ thần thánh cũng hộ.
- Sở tác tất thành, thần tiên khả kí (làm việc chi chắc thành việc đó, cũng có lẽ thành được thần tiên). – Việc chi đây là chỉ việc lành mà thôi, chớ chẳng phải nói chung hết các việc. Phàm ai làm việc chi đều cũng trông mong được kết quả tốt, nhưng thường có xảy ra nhiều việc rắc rối. Đó chẳng phải là ta không hết lòng làm, mà thiệt tại trước ta tạo nghiệt rất nặng, nên mới có ma chướng cản ngăn. Nhưng nếu không vì sự rắc rối đó mà thối hối trong lòng, lại càng thêm sức tinh tấn thì tự nhiên các việc rắc rối sẽ chiều theo ý muốn. Tại sao? Là bởi cái số lành của người làm lành kia đã đầy đủ rồi, đã đặng người kính, Trời hộ, phước theo, tà lánh, thần phò, thì việc làm nào mà không thành tựu? Cho đến việc khó như việc tu luyện thành thần tiên mà cũng còn có thể trông mong được nữa.
Bài trước kể các sự cảm, còn bài này kể các sự ứng, mà đều thuộc về điều lành cả. Hễ cảm lành thì ứng lành, luật Trời định chắc như vậy không hề sai chạy.
III. NHỮNG ĐIỀU DỮ NÊN CHỪA
Việc dữ kể ra trong Kinh Cảm Ứng gần hết hai phần cuốn. Đây xin lược kể mấy điều đại khái mà thôi:
- Phi nghĩa nhi động, bội lý nhi hành (tính điều phi nghĩa, làm việc trái lẽ).
- Âm tặc lương thiện, ám vũ quân thân (hại lén người lành, khi thầm vua chúa, cha mẹ).
- Ngược hạ thủ công, siểm thượng hi chỉ (hãm hại kẻ dưới để mình lập công, dua mị người trên mong trên đẹp ý).
- Thọ ân bất cảm, niệm oán bất hưu (thọ ơn mà chẳng cảm ơn, nhớ việc thù oán hoài hoài).
- Sát nhơn thủ tài, khuynh nhơn thủ vị (giết người lấy của, hại người cướp ngôi).
- Lăng cô bức quả, khí pháp thọ lộ (hiếp đáp đàn bà góa, con mồ côi, tham của hối lộ mà bỏ phép công).
- Tri quá bất cải, tri thiện bất vi (biết việc lỗi mà chẳng sửa, biết điều lành mà chẳng làm).
- Sán báng thánh hiền, xâm lăng đạo đức (chê bai thánh hiền, phá rối đạo đức).
- Xạ phi trục tẩu, phát trập kinh thê, điền huyệt phúc sào, thương thai phá noãn (bắn loài bay, săn loài chạy, khuấy phá loài ở dưới đất, náo động loài đậu trên cây, bít hang lật ổ, đập trứng hại thai).
- Nguy nhơn tự an, giảm nhơn tự ích (hại người ta đặng mình yên, bớt phần người thêm phần mình).
- Hình nhơn chi xủ, kiết nhơn chi tư (bày chỗ xấu của người, vạch việc riêng của người).
- Hao nhơn hóa tài, li nhơn cốt nhục (làm hao mất của cải người, phá rời rã tình ruột thịt người).
- Xâm nhơn sở ái, trợ nhơn vi phi (đoạt người hay là vật của người ta thương mến, giúp kẻ khác làm điều hung dữ, sái phép).
- Sinh chí tác oai, nhục nhơn cầu thắng (đắc chí làm oai để phục người ta, làm nhục nhã người để toại lòng háo thắng của mình).
- Tán khí ngũ cốc, lao nhiễu chúng sanh (hủy hoại cơm gạo, khổ khắc người vật).
- Quyết thủy phóng hỏa, dĩ hại dân cư (phá cống, đốt nhà, để hại nhơn dân).
- Can cầu bất toại, tiện sanh chú hận (xin hỏi người ta chẳng cho, bèn sanh oán giận, rủa bới).
- Kiến tha tài năng khả xưng nhi ức chi (thấy người khác giỏi dắn đáng khen, mà lại kiếm cớ chê đè).
- Thưởng phạt bất bình, dật lạc quá tiết (thưởng phạt không công bình, vui chơi không tiết độ).
- Oán thiên vưu nhơn, ha phong mạ võ (giận trời trách người, chửi gió mắng mưa).
- Dụng thê thiếp ngữ, vi phụ mẫu huấn (nghe lời vợ thiếp mà trái lịnh mẹ cha).
- Đoản xích hiệp độ (đạc), khinh xứng tiểu thăng (thước non đo thiếu, cân nhẹ đong lui).
- Tham lam vô yểm, chú trớ cầu trực (lòng tham lam vô hạn, thề thốt cho người tin mình ngay thẳng).
- Tổn tử đọa thai, hành đa ẩn tịch (hại chết con nít, phá hư thai bào, làm việc lén lút, không quang minh chánh đại).
Những việc dữ nên chừa cũng chẳng phải ít, không thể kể ra cho hết. Nói tắt mà nghe, những việc nào tổn hại cho người, cho vật, phạm đến oai Trời và thần minh đều là việc dữ cả.
Có người nói: Tôi không làm dữ là đủ, không làm dữ tức là người lành rồi. Điều ấy chưa ắt.
Trang Tử nói rằng: “Nhứt nhựt bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi“. Nghĩa là: Một ngày không tưởng đến việc lành, thì mọi việc dữ đều tự nó dấy lên.
Còn xét về mặt tiến hóa, nếu không làm dữ mà chẳng lo tu thiện thì trái với luật của Tạo hóa. Trái luật Tạo hóa chẳng phải là đắc tội với Trời sao? Hễ đắc tội với Trời thì là làm dữ rồi, không thể gọi là làm lành được.
IV. LÀM DỮ SẼ MANG HỌA
Hễ làm dữ thì có họa đến cho mình. Đức Thái Thượng kể các việc dữ, rồi lại chỉ rõ những sự họa hại về sau như vầy:
- Tư Mạng tùy kỳ khinh trọng, đoạt kỳ kỷ toán (Tư Mạng Táo Quân tùy tội lỗi nặng nhẹ, mà bớt tuổi thọ, hoặc một kỷ, hoặc một toán). – Năm phước là: 1. Thọ, 2. Phú, 3. Khương ninh, 4. Du háo đức (chỗ ưa mến là đức), 5. Khảo chung mạng (chết tốt). Thọ đứng đầu trong năm phước, nên phạt dữ cũng lấy đó làm đầu.
- Toán tận tắc tử, tử hữu dư trách, nải ương cập tử tôn (hết toán rồi thì chết, chết còn dư tội, thì để tai ương lại cho cháu con). – Trong một gia quyến, cha con, anh em, chồng vợ đều có duyên phần với nhau nên mới hội hiệp cùng nhau một chỗ. Việc làm của người này sao cũng có ảnh hưởng đến người kia, việc làm của người kia sao cũng có ảnh hưởng đến người này. Tuy biết rằng “ai tu thì nấy đặng phước, ai làm dữ thì nấy mắc họa”, nhưng đó là luận về phần cảm ứng riêng của mỗi người. Còn có phần cảm ứng chung cho nhiều người, chẳng phải can phạm những người một nhà, một xóm mà thôi, lại gồm luôn cả xứ, cả nước, cả thế giái nữa. Hễ tình thân ái càng lớn chừng nào, thì chỗ can phạm càng nhiều chừng nấy. Bằng chẳng vậy, ai lo phận nấy, thì còn gì là thuyết gia đình, xã hội.
- Hựu chư hoạnh thủ nhơn tài giả, nải kể kỳ thê tử, gia khẩu dĩ đương chi, tiệm chí tử táng (lại những kẻ gian tham cướp giựt của người, thì vợ con, mấy miệng ăn trong nhà đều phải trả chung, lần lần chết yểu vong thân). – Trời phạt chung cả nhà là vì vợ con trong nhà đều có dùng của gian ấy, nhứt là có hưởng mà còn xúi giục thêm. Còn hưởng của gian mà giả đò làm lơ như chẳng rõ biết, cũng là có tội nặng vậy.
- Nhược bất tử táng, tắc hữu thủy hỏa, đạo tặc, di vong khí vật, tật bịnh, khẩu thiệt chư sự, dĩ đương vọng thủ chi trị (nếu chẳng chết yểu vong thân, thì sẽ có các việc như nước lửa, trộm cướp, bỏ mất tài vật, đau ốm, kiện thưa đến mình, để trừ cho đủ cái số tiền giựt kia). – Tại sao mà chẳng chết yểu vong thân? Ấy là nhờ trong nhà có người hiền lương háo thiện, hoặc tổ tiên chứa phước đức nhiều, nên chỉ bị các việc kể trên này xảy ra làm cho hao hết số tiền phi nghĩa đó mà thôi. Ngạn ngữ nói rằng: “hoạnh tài bất phú” là vậy.
- Hựu uổng sát nhơn giả, thị dịch đao binh nhi tương sát dã (lại giết oan người ta, thì tỉ như đổi gươm dao mà giết nhau vần công). – Kẻ hung hăng, kẻ trộm cướp, v.v… giết người vô tội thì bị thân thích của người chết, hoặc bị tòa hình thay mặt cho xã hội buộc tội mà giết lại; hay là đầu thai vay trả cho nhau, oan oan tương báo. Ấy là lẽ Trời tuần huờn, không trông cầu may mà được thoát khỏi. Cho nên giết người, chớ tình thiệt là giết mình đó.
- Thủ phi nghĩa chi tài giả, thí như: lậu phủ cứu cơ, trẩm tửu chỉ khát. Phi bất tạm bảo, tử diệc cập chi (lấy đồng tiền phi nghĩa, cũng như đem thịt khô bị mưa dột mà cứu người khỏi đói, rượu có tẩm lông chim trấm mà trợ người hết khát. Chẳng phải không no đủ một lúc, mà rồi cũng chết liền theo đó). – Nước mưa dột nhểu vào thịt khô thì thịt đó rất độc, hại được mạng người. Con chim trấm ăn rắn, nên bỏ lông nó vào rượu, thì rượu ấy giết người lẹ lắm.
Bài trước kể các sự cảm, còn bài này kể các sự ứng, mà đều thuộc về dữ cả. Hễ cảm dữ thì ứng dữ, chớ tưởng là may rủi mà lầm.
V. TÂM KHỞI TƯỚNG LÀNH DỮ
Đức Thái Thượng dạy rằng: “Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi, nhi kiết thần dĩ tùy chi. Hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi, nhi hung thần dĩ tùy chi“, nghĩa là: Trong lòng vừa khởi tưởng đến việc lành, việc lành đó tuy chưa làm ra, mà vì thần lành đã theo mình. Hoặc trong lòng vừa khởi tưởng đến việc dữ, việc dữ đó tuy chưa làm ra, mà vị thần dữ đã theo mình.
Cuốn Tỉnh Thế Ngộ Chơn nói rằng: “Thiện ác lưỡng đồ tranh nhứt niệm, thánh phàm nhị lộ thỉ phân hành“, nghĩa là: Lành với dữ tranh nhau mà phát ra bởi có một niệm tưởng mà thôi, rồi bắt từ đó mới có phân ra hai nẻo thánh với phàm.
Chủ ý nói cái tâm người là gốc sanh điều lành việc dữ, là cái máy tạo ra họa phước, thánh phàm đó. Đừng có hiểu lầm rằng: Việc gì có nói ra mới có quan hệ, chớ còn tư tưởng ở trong tâm thì không hại gì.
Thánh hiền xưa rất trọng tư tưởng vì biết rằng tâm là chủ tể thân hình, nên tư tưởng phát khởi trong tâm là nguồn mạch của mọi việc thân hình làm ra. Có tư tưởng rồi mới có nói ra, mới có làm ra. Người thường tư tưởng về một việc nào hoài, thì có ngày miệng nói ra hay là tay chơn làm ra mà mình không tự biết, bởi tư tưởng nuôi nấng lâu ngày, đủ sức mạnh rồi, nên mình không còn làm chủ nó được nữa, mà phải bị nó làm chủ lại. Người biết lợi dụng tư tưởng thì giữ nguồn mạch này cho trong sạch, tự nhiên dòng nước ở trong đó chảy ra chẳng bao giờ nhiễm bợn nhơ.
Lúc mới khởi tâm mà chưa phát niệm về một vấn đề gì, thì trước phải xét đến chỗ tận thiện tận mỹ, đừng cho xen lộn mảy hào tà vọng. Nếu nguồn mạch đã được sạch trong thì tâm khởi niệm điều chi, thảy đều trọn lành mà không có dữ. Nếu chẳng cẩn thận trước, để cho niệm tưởng loạn sanh rồi, như niệm lành thì khoách sung đã đành, còn niệm dữ thì rất khó tảo trừ. Phải lắm công phu mà không chắc thắng nổi tà vọng. Dầu có thắng nổi thì cũng không khỏi bị dấu vết nơi tâm thần. Tỉ như cây cỏ kia đã nảy mầm mọc chồi, dầu có phát có bừa đi, chung cuộc cũng còn dấu vết ở chỗ ấy, mà sợ nỗi phát bừa không tới cội rễ thì có ngày nó sẽ nảy mầm mọc chồi trở lại chẳng dứt.
Đức Thái Thượng chỉ điều lành nên chứa, việc dữ nên chừa, mà còn e người ta không biết tư tưởng quấy là có hại, nên mới nói rằng: Hễ tâm dấy tưởng thì đã có thần theo rồi. Cái thâm ý của Ngài là muốn cho người ta cẩn thận, chẳng những trong hành vi mà thôi, dầu trong tư tưởng cũng phải vậy nữa.
Nhiều nhà đạo đức bên phương Tây nói rằng: “Tâm ta tưởng sao thì ta sẽ trở nên vậy” thì cũng đồng ý kiến với thánh hiền bên phương Đông. Như vậy, người muốn tu thân, chẳng những phải chăn chừng tư tưởng của mình, mà còn phải mỗi ngày tập tưởng điều lành một đôi lần. Lâu rồi cái tâm quen về mặt này, chỉ có biết tưởng về đường lành mà thôi, thì không thế nào tư tưởng dữ kềm chế mình được.
Tư tưởng lành đã giúp ích cho mình được tiến hóa, mà cũng có thể làm cho những người trong hoàn cảnh mình xu hướng về đường phải nữa. Bởi cớ sao? Vì tư tưởng lành bủa giăng thanh khí khắp chung quanh mình, triêm nhuận người khác, làm cho hột giống lành của họ cũng được lần lần phát sanh.
Tư tưởng quan hệ như thế, thì ai còn dám xem thường nữa chăng?
VI. KHUYÊN RÁNG ĂN NĂN LÀM PHẢI
Đức Thái Thượng dạy rằng: “Kỳ hữu tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, cửu cửu tất họach kiết khánh, sở vị chuyển họa vi phước dã“, nghĩa là: Có kẻ làm dữ trước khi, mà sau rồi ăn năn sửa lỗi, không làm các việc dữ, vưng dạy mọi điều lành, lâu lâu sẽ đặng phước khánh, ấy là đổi họa ra phước đó.
Ngài lại khuyên rằng: “Cố kiết nhơn ngữ thiện, thị thiện, hành thiện, nhứt nhựt hữu tam thiện, tam niên thiên tất giáng chi phước. Hung nhơn ngữ ác, thị ác, hành ác, nhứt nhựt hữu tam ác, tam niên thiên tất giáng chi họa. Hồ bất miễn nhi hành chi?“, nghĩa là: Cho nên người hiền đức nói lành, xem lành, làm lành, một ngày có đặng ba điều lành ấy, đủ ba năm thì tất nhiên Trời xuống cho phước. Kẻ hung hăng nói dữ, xem dữ, làm dữ, một ngày có đặng ba việc dữ đó, đủ ba năm thì Trời xuống cho họa. Sao lại không gắng bó mà làm lành vậy?
Kinh Sám Hối nói rằng:
Chớ thái quá, đừng lòng bất cập.
Phép tu hành luyện tập nhiều ngày.
Làm lành, xem phải, nói ngay,
Giữ ba điều ấy thiệt rày phước duyên.
cũng là giải một ý kiến trên kia.
Xem lành đây là xem bằng thần, xét bằng ý ở trong trí não, chớ chẳng phải dùng mắt thường mà xem ở ngoại cảnh. Ba điều kể trên cũng như ba nghiệp của nhà Phật, là: Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp. Hễ một ngày hết lòng sốt sắng mà giữ ba nghiệp này cho đặng thanh tịnh luôn luôn, thì chừng ba năm sẽ thấy phước báo đến cho mình chẳng sai. Nhưng hỡi ôi! Có mấy ai sốt sắng mà giữ được một mực thường hoài, cho nên sự báo ứng cũng tùy theo đó mà có mau có chậm. Vậy ai muốn mau thì phải gắn bó mà làm lành cho đủ số.
Theo khoa học, phàm hai vật gặp nhau mà thành ra một hiện tượng chi chi thì phải ở trong một cái hạn độ nhứt định. Quá cái hạn độ này thì lại sanh ra một cách biến hóa khác. Cái hạn độ này gọi là bão hòa điểm (point de saturation). Ví như trong không khí có hơi nước tất có định lượng, quá định lượng ấy thì hơi nước thành ra giọt nước; trong nước có muối tan, mà quá định lượng ấy thì muối hết tan nữa được.
Đạo học cũng tựa như vậy. Nếu số lành hay là số dữ chưa quá hạn độ của nó, tức là cái bão hòa điểm chỉ trên, thì cũng không thế nào thành ra phước báo hay là họa báo được. Ta chớ vội trách sao có người làm một ít điều lành mà được hưởng phước, là vì người ấy trước đã làm lành nhiều rồi, nên phước báo mới ứng hiện. Ta chớ vội phiền sao có kẻ làm nhiều việc dữ mà chưa mắc họa, là vì kẻ kia trước không có gây dữ bao nhiêu, nên họa báo chưa lộ hình. Lại có người tuy làm dữ mà cũng có làm lành, hoặc là làm lành mà cũng có làm dữ, vì lành dữ mắc trừ cấn cho nhau, nên sự báo ứng cũng có chậm trễ.
Trong mấy đoạn kinh đã dẫn trên kia, Đức Thái Thượng tổng kết bộ Kinh Cảm Ứng mà dạy phải bỏ dữ về lành, lại cũng chỉ rõ cái lý làm lành hoặc làm dữ đủ số thì tất nhiên có Trời xuống phước hay là xuống họa. Tuy rằng họa phước tại người vời, mà phải biết có Trời cầm đòn cân thiêng liêng ở trong đó.
Muốn đổi họa ra phước thì ta chớ tìm cầu đâu xa, cứ lo làm lành, tuyệt bỏ điều dữ. Ta muốn cho khách quí hằng tới nhà ta, thì phải dọn dẹp trong ngoài cho sạch sẽ, cho nghiêm trang: Khách quí là phước đó. Nếu ta để nhà ta u trệ, ô trược, làm sao kẻ tiểu nhơn chẳng khinh dễ mà lộng vào: Kẻ tiểu nhơn là họa đó. Nếu ta chấp mê chẳng tỉnh ngộ, việc dữ làm hoài, cam tâm thọ họa, thì dầu đức Thái Thượng cũng không phương chi cứu chữa.



