Minh Lý Đạo - Tam Tông Miếu

Cảm ứng luận Phần 2

» mục lục | CHƯƠNG THỨ NHÌ (chương 1 - Phần 2) | CHƯƠNG THỨ BA (chương 2 - Phần 2) | CHƯƠNG THỨ TƯ (chương 3 - Phần 2)

CHƯƠNG THỨ BA (chương 2 – Phần 2)

LUẬN VỀ CẢM ỨNG THEO THÍCH GIÁO VÀ NHO GIÁO

I. CẢM ỨNG THEO THÍCH GIÁO

Nhà Phật cũng có luận cảm ứng mà cho tên khác gọi là nhân quả. Điều này cũng không lấy gì làm lạ, vì người chung một nước cũng thường có dùng tiếng bất đồng mà chỉ một vật, một lý, huống hồ hai tông giáo riêng nhau, gốc sanh ở khác nước. Tuy biết rằng cũng người Tàu dịch Kinh Phật bằng tiếng Phạn ra tiếng Trung Hoa rồi truyền sang Nam Việt, nhưng có lẽ dịch giả muốn dùng danh từ khác nhau cho dễ phân biệt.

Chữ nhân nghĩa là năng sanh (hay sanh sản như hột). Chữ quả nghĩa là sở sanh (bị sanh sản như trái). Vì có hột mới sanh trái, nên nhà Phật gọi nhân là sở tác (việc người làm ra), còn quả là sở thọ (phần người chịu lấy).

Nhà Phật cũng nói: Làm lành thì có nhân quả điều lành, làm dữ thì có nhân quả điều dữ. Làm lành thì hưởng phước, làm dữ thì mắc họa, hễ nhân nào thì quả nấy, có sai chạy bao giờ.

Kinh Niết Bàn nói rằng: Ớ các thiện sĩ! Phải biết nhân lành sanh ra quả lành, nhân dữ sanh ra quả dữ, mà xa lánh cái nhân dữ đi! Lại nói rằng: Sự lành dữ báo ứng tỉ như bóng theo hình, ba đời nhân quả xây vần chẳng sai: đời này bỏ luống ngày giờ (không lo làm lành), sau rồi ăn năn không kịp.

Kinh Nhân Quả nói rằng: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị; dục tri hậu thế quả, kim sanh tác giả thị“, nghĩa là: Muốn biết nhân đời trước, đời nay chịu lấy đó; muốn biết quả đời sau, đời nay làm ra đó.

Đời nay mới sanh ra mà làm con nhà giàu sang hưởng phước, hoặc làm con nhà nghèo hèn chịu khổ, đều là do tiền căn mà báo hậu kiếp. Những kẻ nhờ công đức kiếp trước mà nay được hưởng phước, tuy nay mới làm dữ mà chưa mắc họa, là bởi trừ chưa hết công kiếp trước, hoặc do tội lỗi kiếp trước mà nay chịu khổ, tuy nay mới làm lành mà chưa hưởng phước, là bởi trừ chưa hết tội kiếp trước. Phải chờ trừ cấn lành dữ kiếp trước xong rồi, thì mới trả quả cho đời nay. Nếu có điều lành dữ đời nay mà chưa kịp trả quả, thì kiếp sau cũng phải trả. Đó gọi là tam thế nhân quả.

Nhà Phật luận nhân quả mà không nói đến thần minh. Chẳng phải là không nhìn có thần minh, nhưng không muốn cho chúng sanh ỷ lại vào thần minh, mà tưởng lầm rằng: Các vì thần minh có quyền tự do sửa luật họa phước, làm nắng làm mưa, theo ý muốn riêng của chúng sanh nào bày lễ cúng tế vái nài. Đến đỗi Đức A-Di-Đà là một vị Phật lớn, có lập bốn mươi tám lời đại nguyện độ hết chúng sanh, mà nếu chúng sanh, tuy niệm danh hiệu của Ngài, bái sám hằng ngày, mà không làm y theo luật của Ngài, tâm vẫn loạn động như người thế thường, thì Ngài còn không thể độ rỗi thay, hà huống là vị thần minh nào khác.

Kinh Pháp Bửu Đàn có nói rằng: “Tự tánh tự độ danh vi chơn độ“. Nghĩa là: Lấy tánh mình độ mình, mới gọi là thiệt độ. Lấy tánh mình là lấy cái trí bác nhã trong tánh mình, dùng chánh kiến mà nuôi nấng nó, để đánh phá ngu si mê vọng, rồi tà lại thì chánh độ, mê lại thì ngộ độ, ngu lại thì trí độ, ác lại thì thiện độ. Độ mình bằng cách ấy mới là phép độ chơn thiệt chánh đáng. Nói cho rõ ra: Tự độ nhi hậu Phật độ.

Nhà Phật cũng có cuốn: “Phật giáo Cảm ứng thiên” của Vô Tích Đinh Huệ Khương biên chú, rút những lời Phật dạy trong các kinh về lẽ báo ứng, chỉ cầu cho người người biết việc dữ mà tránh, biết điều lành mà theo.

II. CẢM ỨNG THEO NHO GIÁO

Nho giáo cũng có nói về cảm ứng, nhưng không có lập thuyết đặt tên riêng. Vả lại Nho giáo và Đạo giáo cũng đồng trổ sanh ở Trung Hoa; tuy cận đại có chia ra phái xuất thế và phái nhập thế, nhưng xét về nguồn cội thì hai phái cũng căn cứ ở một thứ kinh sách của Thánh Hiền xưa để lại, nhứt là Kinh Dịch. Về lẽ báo ứng, thì người trong phái Nho giáo hay dẫn những lời sau này:

Kinh Dịch nói rằng: “Tích thiện chi gia tất hữu dư khương, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương“, nghĩa là: Nhà chứa điều lành ắt có nhiều phước, nhà chứa điều chẳng lành ắt có nhiều họa.

Sách Thượng thơ nói rằng: “Tác thiện giáng chi bá tường, tác bất thiện giáng chi bá ương“. Nghĩa là: Làm điều lành thì (Trời) xuống cho trăm việc tốt, làm điều chẳng lành thì (Trời) xuống cho trăm việc hại.

Từ Thần Ông nói rằng: “Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác, tử tế tư lươn, Thiên Địa bất thác; thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược huờn bất báo, thời thần vị đáo“, nghĩa là: Chứa lành gặp lành, chứa dữ gặp dữ, tử tế suy lường, thì rõ Trời Đất chẳng lầm; lành có lành trả, dữ có dữ trả, nếu bằng chẳng trả, ấy là chưa đến ngày giờ.

Đức Khổng Tử nói rằng: “Vi thiện giả Thiên báo chi dĩ phước, vi bất thiện giả Thiên báo chi dĩ họa“, nghĩa là: Kẻ làm điều lành thì Trời lấy phước mà trả cho nó, kẻ làm điều chẳng lành thì Trời lấy họa mà trả cho nó. Nhưng Ngài có nói một lời đáng nhớ hơn hết, là khi Ngài đau, Tử Lộ xin phép khẩn đảo. Ngài hỏi: Xưa có làm vậy chăng? Tử Lộ trả lời rằng: Có vậy. Trong văn tế có nói: “Đảo nhĩ vu thượng hạ thần, kỳ“, nghĩa là: Chúng tôi khẩn đảo các Ngài là chư Thần trên trời và dưới đất. – Ngài mới nói rằng: “Khưu chi đảo cửu hĩ“, nghĩa là: Khưu này (tên của Ngài) đã khẩn đảo lâu rồi. Ý Ngài muốn nói: Khẩn đảo bất quá là cải lỗi dời lành để cầu thần bảo hựu. Ta bình nhựt thấy lỗi thì cải ngay, thấy lành thì dời ngay. Đó là ta khẩn đảo với thần minh thường thường, nào phải chờ đến ngày nay đâu?

Ngài cũng có nói rằng: “Quân tử thản đãng đãng, tiểu nhơn trường thích thích. Quân tử thượng đạt, tiểu nhơn hạ đạt“, nghĩa là: Người quân tử khoan thai vô cùng, kẻ tiểu nhơn buồn rầu chẳng ngớt. Người quân tử càng ngày càng đi lên trên (trên là chỉ đức nghĩa, thiên lý), kẻ tiểu nhơn càng ngày càng đi xuống dưới (dưới là chỉ tài lợi, nhơn dục). Những lời này rõ lại chẳng phải ra ngoài vấn đề cảm ứng.

Thầy Mạnh Tử nói rằng: “Họa phước vô bất tự kỷ cầu chi giả“. Thi vân: “Vĩnh ngôn phối mạng, tự cầu đa phước“. Thái Giáp viết: “Thiên tác nghiệt du khả vi, tự tác nghiệt bất khả hoạt. Thử chi vị dã“, nghĩa là: Không có điều họa phước nào mà chẳng do mình mời đến. Kinh Thi nói: Cứ nhớ vưng theo mạng Trời luôn luôn là tự mình cầu nhiều phước. Thiên Thái Giáp (trong Kinh Thơ) nói: Trời xuống họa còn có thể tránh, tự mình gây họa thì không thể sống nổi. Chánh là nói nghĩa đó. Thầy Mạnh Tử dẫn lời Kinh Thi và Kinh Thơ này để chứng bằng câu Ngài nói trước là câu: Họa phước vô bất tự kỷ cầu chi giả.

Cốt yếu mấy lời trên kia là nói: Làm lành gặp phước, làm dữ mắc họa, họa phước đều tự mình gây ra. Cho nên người quân tử tránh điều phi lễ, phi nghĩa, là chủ ý tuyệt cảm ứng về điều dữ vậy. Nhưng Nho giáo chuyên lo về mục đích cang thường luân lý, hay nói thiệt sự, cho nên phần nhiều lời dạy trong kinh sách phái này thuộc về vấn đề cảm ứng, đối với nhơn vật.

‹ Phần trướcMục lụcPhần sau ›