Minh Lý Đạo - Tam Tông Miếu

Cảm ứng luận Phần 2

» mục lục | CHƯƠNG THỨ NHÌ (chương 1 - Phần 2) | CHƯƠNG THỨ BA (chương 2 - Phần 2) | CHƯƠNG THỨ TƯ (chương 3 - Phần 2)

CHƯƠNG THỨ TƯ (chương 3 – Phần 2)

KẾT LUẬN HIỆP LÝ TAM GIÁO

I. VỀ MẶT CẢM ỨNG, TAM GIÁO KHÁC NHAU Ở CHỖ LẬP LUẬN, NHƯNG VẪN BỔ NGHĨA CHO NHAU

Ba tông giáo là Nho, Thích, Đạo đều có luận về cảm ứng. Tuy giáo nào cũng dạy đủ lý, nhưng đại khái chỗ lập luận có khác nhau (đại đồng tiểu dị). Đạo giáo căn cứ ở thần minh, Nho giáo ở luân lý, Thích giáo ở tự tánh.

Tam giáo cần phải hiệp nhau là lẽ này:

Nếu chỉ biết cảm ứng về một mặt thần minh thưởng phạt (Đạo giáo) thì e sanh thói ỷ lại, mất tánh tự cường, chẳng cầu tự lực mà chỉ cầu tha lực, cúng tế cầu phước, thành ra mê tín, thì có phải tự tánh càng ngày càng thêm tối tăm chăng?

Nếu chỉ biết cảm ứng về một mặt luân lý (Nho giáo) thì e thiên về phần đời, chỉ cầu sung sướng vật chất theo kiếp này, mà chẳng cần lo phần thiêng liêng về ngày sau, thì cái đời con người có gì là lý thú, là cao thượng?

Nếu chỉ biết cảm ứng về một mặt tự tánh, thì lại e không trọng kính thần minh, có ý dung dị cho mình thái quá, tự nhận rằng muôn việc chỉ cũng do nơi mình, thì có cần phải sợ ai, sanh ra tánh khinh khi mà dễ sa nơi đường tội lỗi; hoặc chỉ lo ích lợi riêng cho phần thiêng liêng của mình mà thôi, thì còn gì là nhơn quần xã hội, luân lý cang thường.

Mỗi giáo tùy cơ mà khuyến dạy, liệu bịnh mà cho thuốc, nói rõ khoản này mà không nói rõ khoản khác, nên cần phải hiệp cả ba, để châm chước, thêm bớt cho nhau mà tạo thành một thuyết hoàn toàn.

Theo tâm lý học: Trí, Tình, Ý là ba phương diện của cái tâm người. Loài thượng đẳng thú cũng có ba đức tánh ấy. Nhưng nếu ta quan sát xuống tới loài thấp, loài nhỏ hơn nữa, thì trí và tình lần lần sát nhập, ban đầu còn phân biệt với ý, sau hiệp lại làm một, thì chỉ còn có một cái khuynh hướng không mà thôi.

Nếu con người càng tiến hóa chừng nào thì ba phương diện của cái tâm càng phát biểu ra rõ rệt chừng nấy, nhưng cũng còn giữ một gốc, chớ chẳng phải lìa nhau. Tỉ như:

  1. Lúc ta tưởng về khoa học, vì ta mến khoa học và ta muốn truyền bá nó ra, ta mới đứng ra diễn thuyết thì ta làm vai người giáo sư, hoặc nhà bác học. Ở trong tâm ta, sự tưởng (trí) mạnh hơn, mà cũng trong một thời gian, ta có mến (tình) và muốn (ý) nữa.
  2. Khi ta có lòng mến một người nào hay là vật gì, mỗi hành động của ta đều qui về một sự yêu mến ấy, thì ta làm vai người tình tự, hoặc nhà mỹ thuật. Trong vai này sự mến (tình) mạnh hơn, mà cũng trong một thời gian, ta có tưởng (trí) và muốn (ý) nữa.
  3. Khi ta muốn đem ý chí của ta ra thi hành, ta muốn khiến người làm theo ta và ta muốn hành động sao cho đạt tới mục đích đó, thì ta lại làm một vai khác chẳng đồng với hai vai trước. Theo vai này thì ý chí mạnh hơn, mà cũng trong một thời gian ta muốn (ý) đó, ta cũng mến (tình) và ta cũng tưởng (trí). Vậy thì trong mỗi vai ta đều có gồm đủ cả ba đức tánh: trí, tình, ý. Nhưng ba đức tánh này có khác nhau trong mỗi vai là do nơi phần trổi hơn, tức là chỗ đặc biệt của mỗi vai đó.

Ba tông giáo đứng về ba phương diện mà luận cảm ứng. Ba phương diện này là trí, tình, ý, của cái tâm người mới giải trên. Thử xét: Nho có phải lo phần trí nhiều hơn chăng? Đạo có phải lo phần tình nhiều hơn chăng? Thích có phải lo phần ý nhiều hơn chăng?

Ba giáo khác nhau là tại chỗ phần trỗi hơn, tức là chỗ căn cứ lập luận nói có rành rẽ hơn đó, chớ có giáo nào mà dạy phóng túng tâm tánh, giáo nào mà truyền không có thần minh, giáo nào mà nói không cần luân lý đâu?

II. TUY RẰNG TAM GIÁO LUẬN THIÊN MẠNG VÀ ĐỊNH MẠNG BẤT ĐỒNG, NHƯNG ĐỀU DẪN LÊN MỘT CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT

Có người lại bài bác rằng: Nho, Đạo xướng cái thuyết thiên mạng (fatalisme), còn Thích giáo xướng cái thuyết định mạng (déterminisme), nghịch hẳn với nhau, làm sao mà dung hòa cho được?

Thiên mạng là gì? Thiên mạng là thuyết dạy rằng mỗi việc của người gặp gỡ hoặc phải làm ra trong một kiếp sống đều do nơi Trời định trước, không thế nào trốn lánh hay là sửa đổi một tí gì được. Tục thường gọi là vận mạng.

Còn định mạng là gì? Định mạng là thuyết nói rằng mạng người không có ai chủ trương trong đó, tự việc của người làm mà dự định. Do việc làm trước khi di truyền lại bây giờ, do việc làm bây giờ di truyền lại ngày sau. Nhân quả thông suốt cả ba đời, chẳng hề sai chạy, không có điều họa phước nào chẳng phải tự mình tìm cầu lấy nó. Cũng gọi là thuyết túc mạng hay là định nghiệp.

Hai thuyết này mới nghe qua thì ai cũng cho là bất đồng. Vậy cũng nên xét coi hai thuyết ấy có thể dung hòa với nhau được không?

Về thuyết thiên mạng, ta nên biết rằng: Thiên mạng có nhiều thuyết thiên mạng. Thuyết thiên mạng của Nho, Đạo chẳng phải như nhiều người hiểu lầm là thuyết tự nhiên thiên mạng (fatalisme absolu), nghĩa là Trời định tự nhiên, chẳng kể đến việc làm, hoàn cảnh, vân vân… nào cả.

Không, không. Thiên mạng của Nho, Đạo (có thể gọi là fatalisme stoïcien) là thuyết Trời phán xét việc làm của người mà định phần tội phước. Hễ ai hành động thuận lý thì hưởng phước, còn trái lý thì chịu họa. Nếu người trước phạm tội nay biết hồi đầu sửa lỗi, hiệp với cơ tiến hóa, thì phần Trời định trước kia sẽ có biến đổi. Cho nên nói: “Thiên định mạng, nhơn tạo mạng, nhơn định thắng thiên”, nghĩa là: Trời nhứt định mạng vận cho người, người tự mình tạo ra mạng vận của mình, người nhứt định hơn Trời, là vậy đó. Bằng nói Trời muốn định thế nào thì định, không do nơi người, thì con người có cần làm lành, lánh dữ làm chi?

Thế thì thuyết thiên mạng hay là thuyết định mạng ấy đều phải do việc làm của người mà nhứt định tội phước, thử nghĩ hai thuyết có khác nhau không?

  • Có kẻ nói: Một thuyết nói Trời định tội phước, còn thuyết kia nói không có ai chủ trương về việc đó, chỉ do luật tam thế nhân quả mà thôi. Như vậy sao gọi là không khác nhau?
  • Xin trả lời: Nếu không xét kỹ thì tưởng hai thuyết trái nhau, chớ kỳ thiệt không phải trái.

Trời là chi? Luật là chi? Trời chẳng phải là một ông vua bạo ngược, muốn làm chi thì làm. Ai tưởng như thế là lầm. Trời là Đấng làm ra luật (Législateur), là Quan tòa xử theo luật (Juge). Lẽ thường, quan tòa nào xử đúng luật thì ta mới cho là công bình chánh trực. Trời là Đấng tột công bình chánh trực, thì đâu có rời luật ra bao giờ. Cho nên nói: Trời là Luật, Luật là Trời, là phải rồi. Huống chi theo lời trước đã giải, Trời của Nho, Đạo chỉ là Lý bổn nhiên, nào phải là một Đấng có hình dáng, có tình cảm hay là tư dục như người ta đâu!

Trên kia giải cách thi hành luật, đây lại chỉ Đấng thi hành, không có gì trái nhau cả, thì thuyết thiên mạng của Nho, Đạo và thuyết định mạng của Phật giáo vẫn theo có một lý mà thôi.

Nếu ta tiến lên một bực nữa mà xét, thì ta sẽ thấy còn có chỗ hạp với nhau nữa. Tuy biết có Trời hay là Luật định, nhưng sự quyết định đó không phải tất nhiên tuyệt đích (nécessité absolue). Ta có thể biến cải hay là thủ tiêu một việc báo ứng trước khi nó phát hiện. Vậy thì thuyết thiên mạng của Nho, Đạo và thuyết định mạng của Phật giáo đồng cho có một phần tự nhiệm (libre arbitre), nghĩa là chí nguyện (ý chí) được ít nhiều tự do.

Kẻ nào không có chí nguyện thì phải làm những việc sắp đặt trước rồi, vì những việc mình làm trước hòa hiệp với nhau thành ra một cái sức cảm tổng hiệp, day trở con người theo lối nhứt định. Đây là chỉ hạng người không có cái ý sáng kiến chi hết.

Còn người có chí nguyện biến cải được ít nhiều phần tiền định của mình, tùy theo nguyện lực của mình mạnh yếu, và cách dùng nguyện lực đó được đúng cùng không. Vì mỗi giờ phút, chí nguyện của con người có thể châm thêm sức cảm mới trong mạng vận của mình, làm cho biến cải phương hướng của sức cảm tổng hiệp nói trên kia. Hãy coi thuyết động cơ thì rõ cái lý này.

Vậy thì đủ thấy con người xu hướng về lành hay là về dữ là tự nơi chí nguyện của mình. Muốn cho chí nguyện xu hướng về lành thì cần phải lấy trí huệ làm ngọn đuốc dẫn đường. Nếu chí nguyện và trí huệ được trọn mở mang thì con người mới được trọn siêu thoát. Đây là chỉ cái mục đích tối thượng của con người.

Tóm lại, có cái tự do tuyệt đích cho người thấu đáo chơn lý mà thôi (ròng tự nhiệm), có cái tự do tương đối cho người đã mở mang ít nhiều cái chí nguyện của mình (nửa thiên mạng hay là định mạng, nửa tự nhiệm); rốt lại có cái số hệ độc đoán buộc trói những kẻ nào không có chí nguyện gì hết (ròng thiên mạng hay là định mạng).

Có người chỉ học thuyết thiên mạng hay là thuyết định mạng, mà không xét đến phần tự nhiệm, nên thấy kẻ khác chịu thống khổ thì nói rằng: “Người này bị phạt bởi trước kia có gây tội lỗi, nếu ai cứu hộ nó thì sẽ mắc tội liên can”. Ôi! Nếu ai cũng nói như thế đó thì còn gì là đạo từ bi bác ái của Trời Phật. Sao chẳng xét vì họ không biết mới chịu thống khổ, chớ Trời Phật nào muốn cho ta chẳng ra chút công cán hay là đem sự hiểu biết của ta mà dẫn họ lại con đường hạnh phước. Có lúc nào ta không nên giúp đồng ban ta sửa đổi phương châm ăn ở đời đâu? Nếu ta không trợ giúp về phần xác được (vì có khi cũng không nên giúp như vậy), thì phải trợ cho phần hồn họ được thức tỉnh hồi đầu mà tìm phương thoát khổ. Vậy sao gọi là mắc tội được?

Đời này là đời hay gây chuyện bất bình ra hoài, đến đỗi tương sát tương tàn, chỉ bởi một tánh vị ngã mà ra. Ai là người ưu thế mẫn thời phải tìm lý chơn chánh mà hòa hiệp nhơn tâm, làm sao cho người người tương thân tương ái, thì mới mong hưởng phước thanh nhàn, khổ hải biến ra liên trì được. Nếu cứ chấp nê phân rẽ nhau mãi, chia môn này, lập phái nọ, cốt để kích bác nhau, xung đột nhau, mà tưởng sẽ đến lúc đại đồng, ấy là cảm một đường mà muốn ứng một ngả, thì xưa nay chưa từng có vậy bao giờ!

CHUNG

[1] Như dùi với trống, nghĩa là: Hễ có dùi đánh thì trống kêu, có cảm thì liền thấy ứng.

[2] Thiên tước nghĩa là cái quí tự nhiên. Mạnh Tử nói rằng: Hiếu đễ trung tín, vui theo điều lành chẳng mỏi, gọi là thiên tước (tước phẩm của Trời, thiên nhiên chẳng phải người ban). Còn công khanh, đại phu, đó là nhơn tước.

[3] Thuyết thiên mạng dạy có Trời định tội phước, nhưng do việc của người làm. Việc làm của người được chí thiện, nghĩa là theo chánh lý, chẳng bị vật dục hay là hoàn cảnh sử khiến, thì hoàn toàn hiệp với Trời. Người với Trời có một, thì không còn phân biệt nữa. Chừng đó, ai định tội phước, ai lãnh tội phước?

Sách Trung Dung nói: “Thiên mạng chi vị tánh, suất tánh chi vị đạo”, nghĩa là: Mạng lịnh của Trời gọi là tánh, noi theo tánh gọi là đạo. Hay là nói ngược lại và rõ ra: Đạo giải thoát là noi theo bổn tánh của mình mà ăn ở, mà bổn tánh của mình tức là mạng lịnh của Trời. Vậy có phải là mình do nơi mình mà chẳng trái Trời chăng? Có phải là ròng tự nhiệm đó không?

Theo Phật giáo, ròng tự nhiệm tức là cảnh Niết bàn.

[4] Sách Lễ Ký nói rằng: “Đại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục. Cố nhơn bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử, sử lão hữu sở chung, tráng hữu sở dụng, ấu hữu sở trưởng, căn quả cô độc, phế tật giả giai hữu sở dưỡng, nam hữu phận, nữ hữu qui. Hóa ố kỳ khí ư địa dã, bất tất tàng ư kỷ; lực ố kỳ bất xuất ư thân dã, bất tất vị kỷ. Thị cố mưu bế nhi bất hưng, đạo thiết loạn tặc nhi bất tác, cố ngoại hộ bất bế. Thị vị đại đồng”. Nghĩa là: Trong nước tuân hành đại đạo, thì vua coi thiên hạ như của chung, lựa người hiền tài mà truyền ngôi (chẳng phải truyền cho con cháu dòng vua); lời nói đáng tin, việc làm hòa hảo. Cho nên người ta (thần dân) chẳng những yêu cha mẹ mình, con em mình mà thôi, lại còn giúp cho kẻ già yên phận đến chết, dân tráng có đủ mọi món cần dùng, con nít được bảo dưỡng tử tế; thương người góa bụa đơn cô, nuôi kẻ tật nguyền yếu đuối, lo cho trai nên danh phận, gái có thất gia. Rất ghét bỏ rơi rớt của cải (như lúa gạo), mà chẳng phải bo bo cất riêng cho mình (hay bố thí); rất ghét chẳng tự mình ra sức (ở không) nhưng mà chẳng phải chỉ biết làm riêng cho mình (hay giúp đỡ). Cho nên mưu xảo tuyệt chẳng sanh, trộm cướp giặc giã chẳng dấy, thì cần gì phải đóng cửa ngõ nữa. Đó gọi là đại đồng.

NGUYỄN MINH THIỆN

‹ Phần trướcMục lục