PHẦN III
LƯỢC GIẢI
Dưới đây, xin được lược giải 5 vé của bài Tín Tâm Minh do Đức Minh Thiện lọc ghi lại như sau:
Vé 1:
Chí Đạo vô nan (chí đạo không khó), Duy hiềm giản trạch (chỉ hiềm lựa chọn). Tiếng Việt: Chí đạo chẳng có chi rằng khó, Hiềm vì người cau có so đo.
Hai câu này là cương yếu của toàn bài.
“Chí đạo không khó, chỉ hiềm lựa chọn”, nếu ta chọn lựa thì chí đạo trở thành khó. Chí đạo là đạo rốt ráo, tối cao tối diệu. Đó là mục đích người tu sĩ phải đi đến. “Lựa chọn” là phân biệt cái tốt, cái xấu, cái phải, cái quấy,… thiên về một bên mà bỏ bên kia, cái Tâm không còn trong trắng như thuở ban sơ, đã bị trần cấu ô nhiễm, mất tánh bình đẳng.
Nên biết tốt chẳng tự tốt, do Tâm nên tốt; Xấu chẳng tự xấu, do Tâm nên xấu; Phải quấy,…. đều như vậy cả. Cho tới có – không, lìa Tâm thì không cái không, rời Tâm cũng không cả cái có. Phàm phu chúng sanh vì trái bỏ Tâm mình, vọng thấy có không, tốt xấu, phải trái,… khác nhau rồi muốn theo đuổi nó, từ bỏ nó, đều là điên đảo. Có là vọng thì không cũng là vọng, không và có đều theo duyên biến đổi, không nhứt định. Cả hai đều loại bỏ, đó là “lìa vọng”.
Kinh Lăng-Nghiêm nói: “*Nói vọng để hiển cái chơn; vọng, chơn cả hai đều vọng, vẫn chẳng phải chơn. Có vọng có chơn vì có năng kiến và sở kiến*”.
Kiến có 62 loại, trong pháp số đã trình bày rành rẽ, chẳng ngoài “đoạn” và “thường”, hai thứ kiến chấp làm chủ. “Đoạn kiến” là thấy muôn vật đều không, nghịch với “thường kiến” là thấy muôn pháp hiện hữu đều có thực. Thấy hiện hữu có thật là do mê vọng, không biết chủ thuyết duyên khởi của sự sự vật vật trên đời nầy: Vạn pháp không có tự thể. Đã thấy sai lầm, quày đầu lại, cho rằng hiện hữu là không, đó là cầu chơn, cầu hàng phục cái tâm mà ra. Nhưng đây cũng chưa hết mê, chưa phải là chơn vì là còn trong vòng đối đãi. Chỉ vượt lên đối đãi, dứt chấp trước, dứt thấy dính mắc, khỏi cần cầu chi cả, mà toàn thể tức là chơn. Cầu chơn thì lạc vào đoạn kiến, theo vọng thì rơi vào thường kiến. Chỉ hay lìa tất cả “kiến chấp”, toàn thể tức là chơn chẳng cần phải cầu. Nên trong bài Tín Tâm Minh (trọn vẹn) có vé nói: “*Bất dụng cầu chơn, dụng tu tức kiến*” (Chẳng cần cầu chơn, chỉ cốt dứt kiến). Người hành giả nên tham khảo phương tiện nầy.
Trên nói mất tánh bình đẳng, thật ra cái Tâm bình đẳng Bồ-đề đã trở thành tâm phân biệt, tâm sai biệt, đầu dây mối nhợ cho vô minh đứng đầu chuỗi “Thập Nhị nhân duyên”. Đã biết vạn pháp đều do Tâm biến ra, rồi gán cho cái tên giả thì cần gì phải đem Tâm ra so tính. Dứt “so đo” vì vọng tình đối với muôn vật tức là cảnh vọng của Tâm, chớ không gì khác. Nguồn Tâm dứt thì bản thể pháp giới đồng vắng lặng, có vật chi nữa mà ngăn ngại mình? Đừng “lựa chọn” là trở về với bổn giác.
Xét cho rõ, đó có phải là Bồ-đề khi được chứng? Đó có phải là vô minh lúc chúng sanh mê muội? Đó có phải là bổn giác trong kinh? Mà Bồ-đề, Bổn giác, Vô minh, có phải chăng là “vọng duyên” mà giả lập, là tên khác của một Tâm? Lẫn vào trong sắc không, hai pháp, trùm các danh tướng, thiên điều vạn mục đâu trái nhau, hơn kém không xa cách, ngộ mê đâu chẳng do đây, tất cả đều do Tâm mà nêu lên vậy.
Đản mạc tắng ái (Chớ khởi yêu ghét), Đổng nhiên minh bạch (Rỗng suốt minh bạch). Tiếng Việt: Chỉ không nên thương ghét rị mò, Lòng thiệt trống xét dò tỏ sáng.
Hai chữ “yêu ghét”, ai cũng hiểu. Nhưng là tu sĩ, đã tu thì còn hiểu rộng thêm hơn người đời, hiểu trong chiều hướng tu học, trong đường đạo. Chúng ta đồng hội ý không khó để cho rằng: nhàm chán sanh tử, hâm mộ Niết-Bàn, cũng là yêu ghét; Xả bỏ phiền não, thú hướng Bồ-đề là yêu ghét. Mà nói tới yêu ghét, là nói tới “lựa chọn” là có phân biệt: ngã và sở. Vì vậy muốn “chớ khởi yêu ghét”, muốn “chỉ không nên thương ghét rị mò” thì phải dứt khoát theo Phật phủ nhận cái Ta, phải thực hiện pháp vô ngã. Cái Ta là vật rỗng không, là cưỡng danh để gọi mà thôi. Như vậy, chẳng còn dính chấp tình ưa, chán thì Tâm nầy tự nhiên tỏ sáng.
Đừng để cho vấn đề thị phi, phải trái, tốt xấu, khen chê, vinh nhục điên đảo nữa. Phải tập cho lòng luôn luôn bình thản, vô tư thanh tịnh. Nếu nghe ai nói gì, thường ta có thói phê bình, biện biệt dở hay, phải quấy, lên án hoặc biện minh. Trang-Tử khuyên ta nên dùng phương pháp “dụng Tâm nhược kính” (để cho Tâm mình tiếp vật như mảnh gương trong). Đừng bao giờ tỏ bày ý kiến tán thành hay chống đối. Không thốt ra bằng lời, thản nhiên điềm đạm bên ngoài, chẳng những vậy mà thôi, mà nhứt là trong thâm Tâm cũng tuyệt đối không nên có một phản ứng gì cả. Phải để cho lòng mình phẳng lặng như mặt nước hồ thu không gợn sóng. Bỏ cả sự ưa ghét của con người của ta, bỏ cả thành kiến và dư-luận chung quanh để nhìn tất cả với cặp mắt bình đẳng đại đồng của nhà Phật, cặp mắt huyền đồng của Lão – Trang, một cách hết sức chân thành: “Thành giả, Thánh nhi dĩ hĩ”.
Lâu ngày thuần thục, ta sẽ mất hồi nào không biết cái bản ngã chứa đầy quá khứ (thành kiến) để thể nhập vào tâm hồn kẻ khác, mới có thể “dĩ bách tánh tâm vi tâm” lần hồi đi đến tâm trạng của kẻ huyền đồng cùng vũ trụ vạn vật, cảm thấy rõ ràng “Ngô tâm tiện thị vũ trụ, vũ trụ tiện thị ngô tâm”.
Tâm ta rộng lớn, bình đẳng, không có sự chọn lựa, không có sự phê bình, không có sự so sánh và đánh giá, không có sự lên án, không có sự biện minh, thì tâm hồn trở nên trong sáng. Vì sao? Vì đã thoát khỏi mọi bảng giá trị của mọi hệ thống nhị nguyên.
Vé 2:
Hào ly hữu sai (Sai lạc đường tơ), Thiên địa huyền cách (Đất trời xa cách). Tiếng Việt: Vương một mảy lầm sai chẳng hạn, Chia đất trời cách hẳn đôi bên.
Pháp môn rộng lớn các Tổ dạy tuy rằng ngộ mê không sai hở nhưng nếu tình yêu ghét lựa chọn còn chừng nửa đường tơ chưa dứt sạch thì sự cách xa cũng bằng như sự xa cách của Trời đất. Trong câu nầy lại nhấn mạnh thêm: sẽ cách xa ghê gớm như chia đất trời cách hẳn đôi bên, nếu còn sai lầm vướng một mảy tình ưa ghét chọn lựa.
Dục đắc hiện tiền (Muốn được hiện tiền), Mạc tồn thuận nghịch (Chớ để ngược xuôi). Tiếng Việt: Muốn đạo cao trác lập hiện tiền, Chớ thuận nghịch mà thiên đây đó.
Cổ xưa nói: Tánh chân chính không có gì mà chẳng thông, ngược xuôi đều là phương tiện. Câu nầy lại khuyên: “chớ thuận nghịch mà thiên đây đó”. Vậy thì đã chọn lựa rồi sao? Không phải vậy.
Hiện tiền là sát na tam muội. Trong thời gian mục hạ nhứt niệm đó, đường Tâm dứt bặt, ngã sở không còn, khứ lai chẳng hiện. Đó là phương đốn ngộ, thẳng một đường liền tới tịnh độ, quốc độ thanh tịnh. Đã là một đường thì làm gì có thuận nghịch, làm gì có chọn lựa. Câu: “Chớ thuận nghịch mà thiên đây đó” chỉ là lời khuyên: Hãy bặt đường Tâm.
Vé 3:
Vi thuận tương tranh (Thuận nghịch tranh nhau), Thị vi tâm bịnh (Đó là tâm bịnh). Tiếng Việt: Bằng trái phải đua tranh chẳng bỏ, Ấy bịnh tâm nê cố hãy còn.
Sanh tử vô thường là tâm bịnh. Thấy nghe hiểu biết là tâm bịnh, tham thiền học đạo là tâm bịnh, thành Phật làm Tổ là tâm bịnh. Trường hợp tu giải thoát, cần cả hai đều quên, thuận nghịch cả hai đều bỏ. Thánh, phàm muôn lự đều dứt, một đạo không tịch, chẳng cần muôn vàn thuốc thần chi khác. Được vậy, tâm bịnh ấy không chỗ nương tựa được, tự nhiên sẽ dứt.
Bất thức huyền chỉ (Chẳng biết huyền chỉ), Đồ lao niệm tịnh (Nhọc công niệm tịnh). Tiếng Việt: Nếu chẳng rành huyền chỉ chí ngôn, Dầu niệm tịnh cũng khôn mấy ích.
“Huyền chỉ”: Chí đạo. Tên tuy khác mà thể vẫn đồng. Nếu chẳng nhận được thì niệm tịnh mất công vô ích. Ý nói mặc dầu trải nhiều số kiếp như cát sông Hằng, với muôn thứ tu chứng, mà Tâm vẫn chạy tìm pháp bên ngoài, chỉ luống tự nhọc nhằn vô ích.
Vé 4:
Phóng chi tự nhiên (Buông đó tự nhiên), Thể vô khứ trụ (Thể chẳng khứ trụ). Tiếng Việt: Buông thong thả, xả đừng ràng rịch, Thể vốn không xê dịch lại qua.
Tâm chấp đã dẹp, tự nhiên nhậm vận đằng đằng, không trói không buộc: Động như mây bay, dừng như cốc thần. Đã không tâm đối với bỉ thử, há còn chia rẽ nơi khứ, trụ hay sao?
Kinh Viên Giác nói: “*Ở tất cả thời, chẳng khởi vọng niệm. Đối với các vọng tâm, cũng chẳng dứt diệt, ở trong cảnh vọng tưởng, chẳng thêm liễu tri, không chẳng biện chân thực*”. Ý cũng gần như trên. Tình phàm, Thánh sạch, thể chân thường lộ, xa dứt vọng duyên, tức như Phật, đối với không liễu tri.
Nhiệm tánh hiệp đạo (Nhậm tánh hợp Đạo), Tiêu diêu tuyệt não (Tiêu dao tuyệt não). Tiếng Việt: Noi tánh thường hiệp Đạo mới là, Hết phiền não, vào ra tự tại.
Cái Tâm đã không, Tánh chẳng đợi nhậm mà tự nhậm, Đạo chẳng đợi hợp mà tự hợp. Dụ trường hợp Lục Tổ Huệ-Năng. Sở dĩ Ngũ Tổ trao pháp cho Lục Tổ thay vì Thần Tú là vì Lục Tổ lặng lẽ mà hợp Đạo, thầm kín mà hội được diệu nghĩa Như Lai: “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, nói nín động tịnh, thảy an nhiên”. Tiêu dao như mây ra khỏi hang núi, tuyệt hết phiền não, như vầng trăng ngự giữa hư không. Trong mặt gương tròn lớn (Đại viên cảnh trí) có gì mà chẳng như vậy?
Vé 5:
Nhứt thiết bất lưu (Tất cả chẳng lưu), Vô khả ký ức (Không nên ghi nhớ). Tiếng Việt: Chớ cầm giữ cái chi ở lại, Cho tâm còn một mảy nhớ nhung.
Chỗ Tâm hành diệt là: “Tất cả chẳng lưu”; Đường ngôn ngữ dứt là: “Không nên ghi nhớ”.
Ngoài, không pháp, có thể bỏ — đó là: “Tất cả chẳng lưu”; Trong, không tâm, có thể làm (nghĩ) — đó là: “Không nên ghi nhớ”. Rõ ràng thấy không một vật, cũng không người, cũng không Phật, đại thiên sa giới là mảy bọt trong biển, tất cả Thánh Hiền như làn điện chớp, đó là tất cả chẳng lưu: “Nam đài tịnh tọa một lò hương, trọn ngày lóng sáng muôn lự quên”.
Kinh Lăng Nghiêm dạy: “*Nầy A-Nan, Ông muốn nhận rõ cu sanh vô minh khiến ông trôi lăn trong sanh tử, kết làm cội gốc chỉ tại sáu căn của ông, không phải vật gì khác. Ông lại muốn biết vô thượng Bồ-Đề, khiến ông mau chứng an lạc giải thoát, tịch tịnh diệu thường, cũng chính sáu căn của ông, chẳng phải vật nào khác*”.
Ngộ tâm nầy, sáu trần tức là nhứt thừa, mê tâm nầy, thì nhứt thừa đều là sáu trần. Trái nghịch đó là phàm, thuận đó là Thánh “Chẳng phải dứt tâm trừ vọng tưởng, chỉ vì không việc đáng lo suy lường” ấy là không nên ghi nhớ.
Hiện tiền, không cầm giữ tất cả, y theo lời Phật dạy thầy Bà-la-môn móng tay đen, khi thầy đến với Phật: “*Buông xuống đi*”. Buông là buông bỏ sáu căn, sáu trần, sáu thức. Bỏ được hết không còn gì nữa để bỏ, đó là lúc thoát ly tất cả ràng buộc của sanh tử luân hồi. Cũng là tâm không trụ chỗ nào, thuật ngữ là “tâm vô trụ” (A pratishtita cittam). Nói vô trụ nghe ra có phần tiêu cực vì chỉ nhằm mở trói cho trí và tình, nhưng cảm giác bao hàm trong đó lại tích cực và mục đích cuối cùng chỉ đạt tới khi tâm trí được phục hoàn trong thể hoạt dụng bổn lai. “Buông xuống đi” đó là điệp khúc muôn đời rền vang trong giáo lý nhà Phật.
Trí giả vô vi (Kẻ trí vô vi), Ngu giả tự phược (Người ngu tự buộc). Tiếng Việt: Người khôn ngoan vô tác thi công, Kẻ ngu dốt đành lòng tự trói.
Muốn chứng được nhứt thừa thì Tâm đừng đắm nhiễm sáu trần. Không cần nhắm mắt bịt tai, miễn Tâm mình vẫn không phân biệt và chiều uốn theo nó, nghĩa là không nhiễm muôn vật là được. Tâm mình không có những việc vọng tình nghĩ quấy, riêng chấp tư tưởng và tập quán, thì ví như nước mùa thu lóng đứng, trong sạch im lìm, lặng lẽ không bợn ngăn, mới gọi là người làm Đạo, cũng kêu là người vô sự vậy. Thấy rõ kẻ trí không làm (vô tác, vô vi) người ngu tự dính mắc (tự phược).
Khôn ngoan chẳng tự khôn ngoan, chính do ngộ mà trí hiện. Ngu dốt chẳng tự mình ngu, chính vì mê mới ngu. Kẻ khôn ngoan ngộ Tâm mình, Tâm ngộ vốn vô vi. Người ngu cũng tự Tâm họ mê, Tâm mê trở lại tự trói buộc.
Trí và ngu đều do Tâm biến ra, không phải vật nào bên ngoài có thể sai khiến ta được.
Kết thúc bài Tín Tâm Minh, chúng ta đồng lập lại rằng: Chung qui chỉ do Tâm ta mà thôi: *Trí thì tự giải thoát, ngu thì tự trói buộc.* Cũng một tâm mà: *Giác thì tiêu dao tự tại, còn mê thì triền phược buộc ràng.*
